Thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 11-5-2012 của Tỉnh ủy Hòa Bình, huyện Lương Sơn sẽ phát triển nhanh, bền vững trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch, quản lý sử dụng hợp lý tài nguyên, thiên nhiên và bảo vệ môi trường sinh thái.Với mục tiêu tổng quát là huy động các nguồn lực, xây dựng vùng trung tâm huyện Lương Sơn thành đô thị loại IV vào năm 2020, tạo tiền đề để sớm trở thành thị xã Lương Sơn vào năm 2025. Thu hút mạnh mẽ các nguồn lực trong và ngoài nước đầu tư vào địa bàn huyện, mở mang các ngành nghề sản xuất kinh doanh đa dạng, tạo thêm sức mạnh mới cho kinh tế của Hòa Bình nói chung, huyện Lương Sơn nói riêng.Nghị quyết đã đưa ra các chỉ tiêu phát triển đô thị đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025, các chỉ tiêu định hướng trở thành thị xã đến năm 2025. Theo đó, quy hoạch chung đô thị Lương Sơn là trung tâm tổng hợp, đầu mối giao thông, giao lưu kinh tế, văn hóa xã hội, có vai trò thúc đẩy kinh tế - xã hội của tỉnh, khẳng định vị thế của Hòa Bình trong chiến lược phát triển Thủ đô.

Với vị trí hết sức thuận lợi cùng lực lượng lao động địa phương dồi dào, có tay nghề cao, phù hợp cho nhiều loại hình kinh doanh của các nhà đầu tư, khu công nghiệp Lương Sơn đã và đang trở thành một địa chỉ hấp dẫn của các nhà đầu tư ở trong và ngoài nước. Tính tới thời điểm hiện nay, khu công nghiệp Lương Sơn đã thu hút được 26 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký đầu tư là 232,4triệu USD và hơn 2.690 tỷ đồng (hoạt động trong nhiều lĩnh vực: thiết bị viễn thông, may mặc, thép, cơ khí, phụ tùng ô tô, nhôm, kính xây dựng…). Các nhà đầu tư thứ phát đã và đang  đóng góp những sản phẩm mới cho ngành công nghiệp của huyện, tạo công ăn việc làm ổn định cho trên 4.000 lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất, thúc đẩy phát triển kinh tế, an sinh xã hội của địa phương. trong thời gian tới khi các dự án đi vào hoạt động đầy đủ sẽ tạo việc làm cho khoảng 8.000 lao động.

             Kế thừa những kết quả đạt được, những bài học kinh nghiệm trong quá trình điều hành kinh tế xã hội trong giai đoạn vừa qua và dự đoán tình hình kinh tế trong nước, Ủy ban nhân dân huyện đề ra quan điểm sau để phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

- Tiếp tục phát huy lợi thế về vị trí, tiềm năng, duy trì tốc độ phát triển, xây dựng đô thị phù hợp với không gian phát triển chung của tỉnh, của vùng. Giữ vững nhịp độ tăng trưởng kinh tế, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế gắn từng bước phát triển với giải quyết các vấn đề xã hội, văn hóa đô thị, bảo vệ và cải thiện môi trường. Bảo đảm vững chắc về quốc phòng an ninh, phấn đấu đạt tiêu trí đô thị loại IV.

- Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách mạnh mẽ theo hướng cơ cấu kinh tế giai đoạn 2016-2020 là: Tiếp tục giảm dần tỷ trọng Nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp và Dịch vụ - Thương mại. Huy động tối đa và sử dụng hợp lý mọi nguồn lực để phát triển kinh tế xã hội đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa, tăng cường củng cố quan hệ sản xuất tạo điều kiện để các thành phần kinh tế phát triển.

Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, chú trọng các ngành kinh tế mũi nhọn như: tiểu thủ công nghiệp và thương mại - dịch vụ. Huy động các nguồn lực để xây dựng vùng trung tâm huyện Lương Sơn trở thành đô thị loại IV, tạo tiền đề sớm thành thị xã Lương Sơn.

- Nâng cao đời sống cho nhân dân, tập trung các nguồn lực khai thác tiềm năng lợi thế sẵn có, đưa nền kinh tế - xã hội phát triển với tốc độ nhanh, tạo sự phát triển đồng đều giữa các vùng, các địa phương. Phát triển kinh tế gắn với giải quyết tốt các vấn đề xã hội bức xúc, tạo bước chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng nguồn nhân lực, đời sống, trình độ dân trí trên địa bàn huyện; phát triển kinh tế - xã hội gắn liền với việc ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh.

- Tập trung khắc phục những hạn chế và những yếu tố không thuận lợi đến việc tăng trưởng và phát triển kinh tế của địa phương, tăng tỷ trọng thương mại - dịch vụ và công nghiệp. Đồng thời thực hiện tốt các giải pháp ổn định giá cả thị trường, kiềm chế lạm phát, chăm lo tốt hơn về an sinh xã hội. Quản lý sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phục vụ cho quá trình đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường. Đẩy mạnh chỉnh trang đô thị gắn với phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn.

- Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, quan tâm thực hiện đổi mới cải cách công tác giáo dục đào tạo, thực hiện tốt chích sách đền ơn đáp nghĩa.

Mục tiêu tổng quát: Thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh và bền vững đi đôi với quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố và tăng cường quốc phòng; tăng cường sự gắn kết giữa Đảng với nhân dân; chú trọng công tác bảo vệ tài nguyên môi trường, tạo nền tảng vững chắc để xây dựng huyện thành vùng kinh tế động lực năng động của tỉnh Hòa Bình.

Các mục tiêu chủ yếu giai đoạn 2016-2020:

Tính bình quân 5 năm

 

1. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội hằng năm khoảng 35% GRDP.

2. Thu ngân sách nhà nước tăng bình quân 12-15%/năm.

3. Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 1,3%/năm.

Tính đến năm 2020

4. Cơ cấu tổng sản phẩm địa phương: Công nghiệp - xây dựng 60,4%; Dịch vụ 26,4%; Nông, lâm, ngư nghiệp 13,2%.

5. Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 2,0 lần so với 2015.

6. GRDP bình quân đạt 60 triệu đồng (2.730 USD).

7. Tỷ lệ đô thị hóa đạt 42%.

8. Tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới đạt 75%.

9.  Số doanh nghiệp, hợp tác xã thành lập, hoạt động có hiệu quả tăng 2 lần so với năm 2015.

10. Tỷ lệ lao động nông nghiệp dưới 40% trong tổng lao động xã hội.

11. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 65%; trong đó có bằng cấp, chứng chỉ 55,5 %.

12. Có 6 bác sỹ và 16 giường bệnh/vạn dân.

13- Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 90% dân số.

14. Tỷ lệ 98% dân cư thành thị và 95% dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh môi trường.

15. Tỷ lệ chất thải nguy hại và tỷ lệ chất thải y tế được xử lý đạt 100 %.

16. Ổn định che phủ rừng đạt 46%.

CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU:

1. Nâng cao chất lượng công tác xây dựng, quản lý quy hoạch

Tiếp tục phối hợp các đơn vị tư vấn làm tốt công tác quy hoạch nhằm đảm bảo quy hoạch có tầm nhìn xa, có trọng tâm, trọng điểm và phù hợp với yêu cầu của các cơ quan, đơn vị, các nhà đầu tư trên địa bàn huyện. Thực hiện công khai các quy hoạch đã được duyệt để người dân biết, tuân thủ và thực hiện giám sát. Chỉ đạo thực hiện tốt Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của huyện đến năm 2020, tập trung xây dựng các quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch thị trấn Chợ Bến, quy hoạch phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới; quy hoạch các ngành, lĩnh vực mà huyện có thế mạnh.

2. Tăng cường huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội cho đầu tư chuyển đổi cơ cấu kinh tế và hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội

Để đáp ứng được nhu cầu nguồn vốn đầu tư phát triển phục vụ mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững, giai đoạn 2016 - 2020 cần thực hiện đồng bộ các giải pháp huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển. Cụ thể:

- Huy động nguồn lực đầu tư của toàn xã hội vào thực hiện mục tiêu chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tăng hiệu quả và phát huy được lợi thế so sánh của từng vùng, từng ngành, từng sản phẩm nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), ưu tiên các dự án thu hút nhiều lao động, tiêu thụ nguyên liệu tại chỗ.

- Huy động tối đa các nguồn vốn của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước để đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh áp dụng rộng rãi các hình thức đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng theo các phường thực BOT, BT, đầu tư kết hợp công - tư (PPP) và đầu tư tư nhân sở hữu kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng phát triển kinh tế - xã hội.

- Tranh thủ sự hỗ trợ của Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ. Tập trung vào các công trình giao thông các công trình cơ sở hạ tầng .Tăng mức đầu tư cho giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học công nghệ và xoá đói giảm nghèo, nhất là ở các vùng khó khăn.

- Huy động nguồn vốn trong dân, các doanh nghiệp để thực hiện chương trình kiên cố hoá kênh mương, bê tông hoá đường giao thông nông thôn, xã hội hoá các hoạt động giáo dục, đào tạo, y tế, văn hoá thông tin và thể dục, thể thao. Thực hiện tốt việc lồng ghép các nguồn vốn để vừa tạo sức mạnh tổng hợp, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Phát triển đồng bộ và từng bước hiện đại hóa hệ thống thủy lợi, chú trọng xây dựng triển nguồn điện và hoàn chỉnh hệ thống lưới điện, đi đôi với tiết kiệm năng lượng, bảo đảm cung cấp đủ điện cho nhu cầu phát triển.

- Đẩy mạnh việc thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng, tạo mặt bằng sạch để triển khai thực hiện các dự án, công trình theo đúng tiến độ. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát việc quản lý và sử dụng các dự án đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước.

Triển khai công tác giám sát cộng đồng đối với đầu tư sử dụng vốn nhà nước. Áp dụng nghiêm các chế tài trong giám sát thi công, nghiệm thu, thanh quyết toán công trình. Nâng cao năng lực các chủ đầu tư, tăng cường nâng cao kiến thức về quản lý dự án để điều hành các dự án đầu tư tránh thất thoát, lãng phí.

3. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh cạnh tranh bình đẳng, thông thoáng, minh bạch

Tiếp tục rà soát, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, tập trung vào các lĩnh vực liên quan đến gia nhập thị trường, cấp giấy chứng nhận đầu tư, cấp đất, cho thuê đất. Đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp yếu kém rút khỏi thị trường. Trước mắt tập trung thực hiện Đề án đơn giản hoá thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước theo tiến độ của Chính phủ đề ra. Thực hiện công khai các quy trình, thủ tục hành chính. Tổ chức gặp gỡ định kỳ giữa các cơ quan Nhà nước với doanh nghiệp để phối hợp tháo gỡ các vướng mắc, ách tắc trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận với các chính sách, chương trình hỗ trợ của nhà nước về đầu tư và tín dụng, về mặt bằng sản xuất, về tư vấn kỹ thuật và đào tạo phát triển nguồn nhân lực... Tiếp tục nâng cao năng lực và chất lượng hoạt động của hệ thống tài chính, tín dụng nhằm đảm bảo nguồn vốn cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh. Tăng cường hệ thống cung cấp thông tin hỗ trợ doanh nghiệp. Áp dụng tối đa công nghệ thông tin và giảm thiểu các đầu mối trong giải quyết các thủ tục hành chính.

Làm tốt công tác quy hoạch, chuyển mục đích sử dụng đất, đẩy nhanh việc giải phóng mặt bằng để triển khai các công trình, dự án đúng tiến độ. Tạo điều kiện thuận lợi về mặt bằng kinh doanh cho nhà đầu tư thông qua việc công khai, minh bạch quy hoạch sử dụng đất, quỹ đất. Kiên quyết thu hồi các diện tích đất sử dụng không hiệu quả đã giao cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước trước đây để cho các nhà đầu tư khác thuê.

4. Tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp.

Khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tăng cường đầu tư, đổi mới công nghệ tiên tiến, hiện đại, giảm thiểu chi phí nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp. Tiếp tục tập trung tháo gỡ khó khăn, tìm kiếm thị trường tiêu thụ cho các doanh nghiệp nhằm đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh. Khai thác có hiệu quả cơ sở hạ tầng các làng nghề hiện có.

5. Đẩy mạnh phát triển các lĩnh vực văn hoá, xã hội và bảo vệ môi trường

Triển khai mạnh mẽ đào tạo theo nhu cầu xã hội, thực hiện liên kết chặt chẽ giữa các cơ sở đào tạo, các doanh nghiệp, các đơn vị sử dụng lao động và Nhà nước để phát triển nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu các các doanh nghiệp và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

Tập trung đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục ở các cấp học, bậc học; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và học ngoại ngữ trong nhà trường.

Tiếp tục thực hiện các biện pháp đồng bộ nhằm giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học. Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào lĩnh vực giáo dục - đào tạo, phát triển nguồn nhân lực.

Tập trung triển khai các chính sách, pháp luật về chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân. Huy động, lồng ghép các nguồn lực đầu tư tăng cường cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế, nhất là cho trạm y tế cơ sở tuyến xã. Tăng cường các hoạt động kiểm tra sức khoẻ, phòng chống dịch bệnh xã hội và HIV/AIDS, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về thuốc chữa bệnh, đảm bảo sử dụng thuốc hiệu quả, an toàn, hợp lý. Đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hoá gia đình. Tăng cường bảo vệ và chăm sóc trẻ em.

Tập trung xây dựng đời sống, lối sống và môi trường văn hoá lành mạnh; coi trọng văn hoá lãnh đạo quản lý và văn hoá trong thế hệ trẻ. Tiếp tục thực hiện Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tổ chức tốt các hoạt động văn hoá, thể thao chào mừng các ngày lễ lớn.

Đẩy mạnh phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, bài trừ các tệ nạn xã hội. Mở rộng các hoạt động thể dục, thể thao quần chúng và quan tâm phát triển thể thao thành tích cao ở những nội dung mà tỉnh có lợi thế.

Tăng cường công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn xã hội về bảo vệ môi trường. Huy động các nguồn lực để đầu tư xử lý chất thải rắn, chất thải y tế.

6. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững

Thực hiện liên kết chặt chẽ giữa các cơ sở sử dụng lao động, cơ sở đào tạo và Nhà nước để phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội.

Đa dạng hóa các hình thức đào tạo, dạy nghề. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng trường, lớp đào tạo  nghề cần thiết. Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng dạy nghề, giáo dục chuyên nghiệp, bảo đảm cơ chế tự chủ gắn với trách nhiệm của các cơ sở giáo dục đào tạo. Có chính sách ưu đãi học nghề cho người nghèo, đối tượng chính sách, bố trí và sử dụng các sinh viên tốt nghiệp đại học loại giỏi về làm việc tại huyện.

7. Gắn kết tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội

Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, bảo đảm cho người nghèo tích cực, chủ động tham gia vào công cuộc giảm nghèo và phát triển. Hỗ trợ người nghèo có vốn làm ăn để thoát nghèo; tăng cường mức đầu tư, trợ giúp người nghèo, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giảm nghèo, khắc phục tư tưởng ỷ lại, bao cấp, trông chờ vào nhà nước.

Tổ chức thực hiện có hiệu quả pháp luật về bảo hiểm xã hội; mở rộng phạm vi đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm tư nhân theo đúng lộ trình, theo nguyên tắc đóng - hưởng. Xây dựng hệ thống bảo trợ xã hội trong tổng thể hệ thống an sinh xã hội đa tầng, linh hoạt và hỗ trợ lẫn nhau, có khả năng bảo vệ mọi thành viên trong xã hội, nhất là những nhóm dễ tổn thương. Đa dạng hóa các loại hình trợ giúp xã hội và cứu trợ xã hội. Nâng cao nhận thức của xã hội về chia sẻ trách nhiệm đối với việc trợ giúp, chăm sóc những người cần được bảo trợ

8. Nâng cao hiệu lực và hiệu quả bộ máy quản lý nhà nước

Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, trong đó chú trọng công tác cải cách thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động đầu tư, kinh doanh, đất đai..., tạo bước đột phá mới về chất nhằm nâng cao vai trò và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Thực hiện cải cách cơ bản thủ tục hành chính nhà nước, loại bỏ những khâu bất hợp lý và phiền hà, ngăn chặn tệ cửa quyền, tham nhũng, tiêu cực. Đề cao trách nhiệm vai trò của người đứng đầu cơ quan nhà nước. Tăng cường sự giám sát của xã hội, cộng đồng đối với bộ máy nhà nước.

Đổi mới mạnh mẽ phương thức quản lý kinh tế của nhà nước, coi trọng và làm tốt công tác xây dựng, thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, sử dụng có hiệu quả các công cụ quản lý, điều tiết và bảo đảm những cân đối lớn của nền kinh tế, kiềm chế lạm phát; phát triển lành mạnh các thị trường tài chính, tiền tệ, bảo hiểm... Từng bước đổi mới cơ chế quản lý cán bộ, công chức, quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi và kỷ luật của công chức hành chính.

Triển khai quyết liệt có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí gắn với việc tiếp tục thực hiện cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", coi đây là một nhiệm vụ trọng tâm trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, là yêu cầu quan trọng trong việc tạo dựng môi trường kinh doanh bình đẳng và đảm bảo phát triển bền vững.

Thực hiện các giải pháp phòng ngừa tham nhũng, thực hiện công khai, minh bạch trong mua sắm công, xây dựng cơ bản, quản lý dự án đầu tư, xây dựng; tài chính và ngân sách nhà nước, quản lý và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; quản lý và sử dụng đất công. Phân cấp và làm rõ trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng đơn vị và người đứng đầu cơ quan, đơn vị.

Phối hợp chặt chẽ với Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể xã hội trong công tác phòng chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội, tập trung thanh tra công tác quản lý, sử dụng ngân sách, đất đai, tài sản... và những vấn đề dư luận quan tâm. Xử lý nghiêm minh, kịp thời các trường hợp tham nhũng, lãng phí. Tăng cường thanh tra, kiểm tra trách nhiệm của thủ trưởng các cơ quan QLNN, thực hiện tốt các giải pháp tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, hạn chế đơn thư khiếu nại, tố cáo vượt cấp./.

Lương Sơn là huyện cửa ngõ phía đông của tỉnh Hòa Bình,  tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội với vùng Tây bắc của Tổ quốc,  gần với khu công nghệ cao Hòa Lạc, khu đô thị Phú Cát, Miếu Môn, Đại học Quốc gia, Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam. Huyện nằm ở tọa độ địa lí: từ 10502514– 10504125Kinh độ Đông; 2003630– 2005722Vĩ độ Bắc. Phía tây giáp huyện Kỳ Sơn. Phía nam giáp các huyện Kim Bôi và Lạc Thủy. Phía đông giáp các huyện Mỹ Đức, Chương Mỹ; phía bắc giáp huyện Quốc Oai (thành phố Hà Nội).

Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện 36.488,85 ha, được chia thành 20 đơn vị hành chính, bao gồm 19 xã và 1 thị trấn (Cao Răm, Cư Yên, Hòa Sơn, Hợp Hòa, Lâm Sơn, Liên Sơn, Nhuận Trạch, Tân Vinh, Thành Lập, Tiến Sơn, Trường Sơn, Trung Sơn, Tân Thành, Cao Dương, Hợp Châu, Cao Thắng, Long Sơn, Thanh Lương, Hợp Thanh và Thị trấn Lương Sơn). Trung tâm huyện đóng tại thị trấn Lương Sơn- Là trung tâm kinh tế , chính trị, văn hóa của huyện; cách Thủ đô Hà Nội khoảng 40 km về phía Tây và cách thành phố Hòa Bình khoảng 30 km về phía Đông. Có đường quốc lộ số 6A, đường Hồ Chí Minh đi qua, có tài nguyên phong phú và nguồn lao động dồi dào.

Lương Sơn có lợi thế về vị trí địa lí, là đầu mối giao lưu kinh tế, văn hóa – xã hội giữa miền núi Tây bắc với vùng đồng bằng sông Hồng ( cũng như Thủ đô Hà Nội).

Điều kiện tự nhiên:

Về địa hình, huyện Lương Sơn thuộc vùng trung du – nơi chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi, nên địa hình rất đa dạng. Địa hình đồi núi thấp có độ cao sàn sàn nhau khoảng 200-400m được hình thành bởi đá macma, đá vôi và các trầm tích lục nguyên, có mạng lưới sông , suối khá dày đặc.

Khí hậu Lương Sơn thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, với mùa đông lạnh, ít mưa; mùa hè nóng, mưa nhiều. Nền nhiệt trung bình cả năm 22,9 – 23,30c. Lượng mưa bình quân từ 1.520,7- 2.255,6 mm/ năm, nhưng phân bố không đều trong năm và ngay cả trong mùa cũng rất thất thường.

Lương Sơn có mạng lưới sông, suối phân bố tương đối đồng đều trong các xã.Con sông lớn nhất chảy qua huyện là sông Bùi, bắt nguồn từ dãy núi Viên Nam cao 1.029m thuộc xã Lâm Sơn dài 32 km. Đầu tiên sông chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, khi đến xã Tân Vinh thì nhập với suối Bu ( bắt nguồn từ xã Trường Sơn), dòng sông đổi hướng chảy quanh co, uốn khúc theo hướng Tây – Đông cho đến hết địa phận huyện. Sông Bùi mang tính chất một con sông già, thung lũng rộng, đáy bằng, độ dốc nhỏ, có khả năng tích nước.

Ngoài sông Bùi trong huyện còn một số sông, suối nhỏ “nội địa” có khả năng tiêu thoát nước tốt.

Đặc điểm của hệ thống sông, suối trong huyện có ý nghĩa về mặt kinh tế, rất thuận lợi cho việc xây dựng các hồ chứa sử dụng chống lũ và kết hợp với tưới tiêu, phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Có thể thấy, điều kiện khí hậu, thủy văn, sông ngòi đã tạo cho Lương Sơn những thuận lợi trong phát triển nông nghiệp, đa dạng hóa các loại cây trồng, vật nuôi, thâm canh tăng vụ và phát triển lâm nghiệp. Hệ thống sông suối, hồ đập không những là nguồn tài nguyên cung cấp nước cho sinh hoạt và đời sống nhân dân mà còn có tác dụng điều hòa khí hậu, cải thiện môi trường sinh thái và phát triển nguồn lợi thủy sản.

Các nguồn tài nguyên thiên nhiên:

Tài nguyên nước:Nước ngầm ở Lương Sơn có trữ lượng khá lớn, chất lượng nước phần lớn chưa bị ô nhiễm, lại được phân bố khắp các vùng trên địa bàn huyện.

Tài nguyên nước mặt gồm nước sông, suối và nước mưa, phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở vùng phía Bắc huyện và một số hồ đập nhỏ phân bố rải rác toàn huyện.

Tài nguyên rừng:Tổng diện tích đất lâm nghiệp là 18.733,19 ha chiếm 49,68% diện tích tự nhiên. Rừng tự nhiên của huyện khá đa dạng và phong phú với nhiều loại gỗ quý. Nhưng do tác động của con người, rừng đã mất đi quá nhiều và thay thế chúng là rừng thứ sinh.

Diện tích rừng phân bố ở tất cả các xã trong huyện. Nhờ quan tâm phát triển kinh tế đồi rừng, kinh tế trang trại rừng đã góp phần đem lại thu nhập cao cho người dân và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, giữ nước đầu nguồn, cải thiện cảnh quan khu vực.

Tài nguyên khoáng sản:Trên địa bàn huyện có các loại khoáng sản trữ lượng lớn đó là đá vôi, đá xây dựng, đất sét, đá bazan và quặng đa kim.

Tài nguyên du lịch:Với vị trí thuận lợi gần Thủ đô Hà Nội và địa hình xen kẽ nhiều núi đồi, thung lũng rộng phẳng, kết hợp với hệ thống sông, suối, hồ tự nhiên, nhân tạo cùng với hệ thống rừng… đã  tạo cảnh quan thiên nhiên và điều kiện phù hợp để huyện Lương Sơn phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, sân golf.

Trên địa bàn huyện có nhiều danh lam thắng cảnh, di chỉ khảo cổ học, hệ thống hang động, núi đá tự nhiên như: hang Trầm, hang Rồng, hang Tằm, hang Trổ…động Đá Bạc, động Long Tiên… đây là những tiềm năng để phát triển những tour du lịch danh lam thắng cảnh kết hợp với nghỉ dưỡng.

Ngoài ra Lương Sơn cũng là huyện có nguồn tài nguyên du lịch văn hóa vật thể và phi vật thể…/.

 

Thực hiện đề án tuyên truyền, phổ biến pháp luật, ngay từ đầu năm 2015, Liên minh HTX tỉnh đã phối hợp với Sở LĐ-TB&XH tổ chức các lớp tập huấn tuyên truyền Bộ luật Lao động sửa đổi năm 2012, Luật HTX sửa đổi năm 2012. Đồng thời, phối hợp với Viện Phát triển kinh tế hợp tác và Trường Bồi dưỡng cán bộ thuộc Liên minh HXT Việt Nam tổ chức các lớp, chuyên đề học tập Nghị quyết Tư 5 (khóa IX), Kết luận số 56 của Bộ Chính trị “về đẩy mạnh thực hiện NQT.ư 5 (khóa IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể”; Nghị định số 193 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật HTX; các chính sách phát triển kinh tế tập thể...

Dưới triều Nguyễn vùng đất Lương Sơn được gọi là huyện Mỹ Lương thuộc phủ Quốc Oai, Chấn Sơn Tây, gồm 7 tổng, 49 xã, thôn. Tháng 11/1880 triều Nguyễn quyết định sáp nhập huyện Mỹ Lương và huyện Chương Đức thành đạo Mỹ Đức, thuộc Hà Nội. Ngày 22/6/1886 tỉnh Mường Hòa Bình được thành lập gồm 4 phủ: Vàng An, Lương Sơn, Lạc Sơn và Chợ Bờ, tên gọi Lương Sơn chính thức có từ ngày 22/6/1886; lúc đó đạo Mỹ Đức giải thể huyện Mỹ Lương được sáp nhập vào tỉnh Mường, đổi tên thành phủ Lương Sơn, Phủ Lương Sơn lúc bấy giờ có 6 Tổng: Kim Bôi, Gia Cát, Hòa Lạc, Phương Hạnh, Lý Lương và Thanh Dương, lỵ sở đóng ở Kỳ Sơn.

Đến ngày 21/3/1890 phủ Lương Sơn nhập lại Đạo Mỹ Đức vừa được tái lập, nhưng do vị trí địa lý và tầm quan trọng của Phủ Lương Sơn nên ngày 18/3/1891 toàn quyền Đông Dương quyết định xóa bỏ Đạo Mỹ Đức lần thứ 2, trả lại Phủ Lương Sơn cho tỉnh Mường Hòa Bình và đổi tên thành châu Lương Sơn, thời gian này, châu Lương Sơn gồm 5 tổng và 19 xã, bao gồm: Tổng Bằng Lộ, Cư Yên, Thanh Nông, Kim Bôi và Tú Sơn. Châu Lương Sơn lúc đó có diện tích 926km2, Châu lỵ lúc đầu đặt ở xóm Mòng (trên km44 đường 6 cũ), cuối năm 1936 sau khi khai thông tuyến đường Đồng Bái, Dốc Chum, Lâm Sơn, Chi châu Đàm Quang Vinh chuyển Châu lỵ về km 44 (đường 6 mới) và tiến hành quy hoạch Châu lỵ, từ đó vị trí Châu lỵ được ổn định.

Cách mạng tháng tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa bãi bỏ cấp tổng và cho phép sáp nhập một số xã, lúc đó Lương Sơn có 14 xã. Ngày 16/11/1965 ủy ban hành chính Liên khu III ban hành quyết định chia các xã: Liên Sơn thành 4 xã, Cao Sơn thành 5 xã, Nật Sơn thành 5 xã, Hạ Bì thành 4 xã, Cao Dương thành 5 xã, Kim Bôi thành 5 xã, Tiến Xuân thành 2 xã, Hợp Thanh thành 3 xã, Hùng Sơn thành 3 xã và Yên Trạch thành 2 xã. Tính đến cuối năm 1957 Lương Sơn có 44 xã.

Ngày 17/4/1959 Thủ tướng chính phủ ban hành Nghị định số 153/TTg tách huyện Lương Sơn thành 2 huyện Lương Sơn và Kim Bôi, huyện Lương Sơn có 22 xã. Tháng 3/1960 Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quyết định chuyển 5 xã thuộc huyện Kỳ Sơn: Yên Quang, Yên Bình, Yên Trung, Đông Xuân, Tiến Xuân về huyện Lương Sơn. Ngày 15/11/1968, được sự ủy nhiệm của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nội vụ đã ra quyết định số 631 nhập xã Đào Lâm và xã Cao Sơn thành xã Cao Răm.

Ngày 03/01/1971 Chính phủ ra Nghị định số 71 chuyển 8 xã vùng Chợ Bến về huyện Kim Bôi huyện Lương Sơn còn lại 18 xã và thị trấn Nông trường Cửu Long; ngày 6/9/1986 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định số 103 giải thể xã Hùng Sơn và thị trấn Nông Trường Cửu Long thành lập thị trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn lúc đó có 18 xã, 1 thị trấn.

Thực hiện Kết luận số 19-KL/TW, ngày 28/01/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, Nghị quyết số 15/2008/QH12, ngày 29/5/2008 của Quốc hội khóa 12, Chỉ thị số  260/CTTTg ngày 4/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện chủ trương mở rộng địa giới hành chính vùng Thủ đô Hà Nội. Ngày 29/5/2008 toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của 4 xã: Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung của huyện Lương Sơn được chuyển về huyện Quốc Oai, Thạch Thất của Thành phố Hà Nội.

Ngày 14/7/2009, toàn bộ diện tích tự nhiên, và dân số 7 xã vùng Chợ Bến của huyện Kim Bôi được chuyển về huyện Lương Sơn quản lý và chuyển xã Yên Quang của huyện Lương Sơn về huyện Kỳ Sơn quản lý. Từ đó đến nay huyện Lương Sơn ổn định địa giới hành chính với 19 xã và 01 thị trấn.

Mặc dù trải qua nhiều biến đổi về địa giới hành chính và tên gọi, nhưng mỗi tên xóm, tên làng của Lương Sơn đều gắn bó máu thịt với từng người dân, đó là kết quả mà bao thế hệ cha ông đã đổ mồ hôi, công sức và cả xương máu để xây dựng và gìn giữ cho đến ngày nay, vì thế mỗi tên đất tên làng đều trở thành niềm tự hào của nhân dân các dân tộc huyện lương Sơn hôm nay và mai sau./.

4Liên hợp quốc (LHQ) ngày 8-4 đã kêu gọi khoản ngân sách khẩn cấp trị giá 111 triệu USD để cấp cho các hoạt động nhân đạo của cơ quan này tại CHDCND Triều Tiên trong năm 2015.

Thông cáo của Văn phòng của Điều phối viên thường trú LHQ tại CHDCND Triều Tiên cho biết: “LHQ cần khẩn cấp gói ngân sách 111 triệu USD để cấp cho các hoạt động nhân đạo tại CHDCND Triều Tiên trong năm 2015. Ngân sách này sẽ hỗ trợ các hoạt động nhân đạo trong các lĩnh vực lương thực và nông nghiệp, y tế và dinh dưỡng, nước sạch và hệ thống vệ sinh”.

 

Điều phối viên thường trú LHQ tại CHDCND Triều Tiên, Ghulam Isaczai, cho biết, nhu cầu cấp thiết về hàng triệu USD đối với các hoạt động nhân đạo cho người dân CHDCND Triều Tiên là lâu dài và các hoạt động nhân đạo cần được cấp ngân sách liên tục, ổn định.

 

Ngân sách cấp cho hoạt động nhân đạo tại CHDCND Triều Tiên sẽ ưu tiên cho năm cơ quan của LHQ đang hoạt động tại nước này để tiếp tục các chương trình của mình, bao gồm: Chương trình Lương thực thế giới (WFP), Quỹ Nhi đồng LHQ (UNICEF), Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Quỹ dân số LHQ (UNFPA) và Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp LHQ (FAO).

NOGTHONMOI

466636345423525

GIAY MOI copy copy

 

phan anh kien nghi

FFFFFADA

Bản đồ hành chính huyện

ban do hanh chinh

Các khu công nghiệp

Văn bản mới

V/v báo cáo số lượng và lập danh sách đăng ký bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên các cấp học năm 2018

Báo cáo kết quả thực hiện pháp luật, chính sách đối với thanh niên trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Triển khai Nghị định số 61/2018/NĐ-CP về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính

Kế hoạch tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thời kêu gọi thi đua ái quốc

V/v báo cáo số lượng và lập danh sách đăng ký bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên các cấp học năm 2018

Báo cáo kết quả thực hiện pháp luật, chính sách đối với thanh niên trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Triển khai Nghị định số 61/2018/NĐ-CP về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính

Kế hoạch tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thời kêu gọi thi đua ái quốc

V/v báo cáo số lượng và lập danh sách đăng ký bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên các cấp học năm 2018

Báo cáo kết quả thực hiện pháp luật, chính sách đối với thanh niên trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Triển khai Nghị định số 61/2018/NĐ-CP về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính

Kế hoạch tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thời kêu gọi thi đua ái quốc

V/v báo cáo số lượng và lập danh sách đăng ký bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên các cấp học năm 2018

Báo cáo kết quả thực hiện pháp luật, chính sách đối với thanh niên trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Triển khai Nghị định số 61/2018/NĐ-CP về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính

Kế hoạch tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thời kêu gọi thi đua ái quốc

V/v báo cáo số lượng và lập danh sách đăng ký bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên các cấp học năm 2018

Báo cáo kết quả thực hiện pháp luật, chính sách đối với thanh niên trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Triển khai Nghị định số 61/2018/NĐ-CP về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính

Kế hoạch tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thời kêu gọi thi đua ái quốc

V/v báo cáo số lượng và lập danh sách đăng ký bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên các cấp học năm 2018

Báo cáo kết quả thực hiện pháp luật, chính sách đối với thanh niên trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Triển khai Nghị định số 61/2018/NĐ-CP về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính

Kế hoạch tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thời kêu gọi thi đua ái quốc

V/v báo cáo số lượng và lập danh sách đăng ký bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên các cấp học năm 2018

Báo cáo kết quả thực hiện pháp luật, chính sách đối với thanh niên trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Triển khai Nghị định số 61/2018/NĐ-CP về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính

Kế hoạch tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thời kêu gọi thi đua ái quốc

V/v báo cáo số lượng và lập danh sách đăng ký bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên các cấp học năm 2018

Báo cáo kết quả thực hiện pháp luật, chính sách đối với thanh niên trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Triển khai Nghị định số 61/2018/NĐ-CP về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính

Kế hoạch tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thời kêu gọi thi đua ái quốc


Tìm kiếm

Thống kê truy cập

hit counter

Template Settings

Color

For each color, the params below will be given default values
Blue Oranges Red

Body

Background Color
Text Color

Header

Background Color

Spotlight3

Background Color

Spotlight4

Background Color

Spotlight5

Background Color

Footer

Select menu
Google Font
Body Font-size
Body Font-family
Direction