I. Vị trí địa lý, dân cư Thị trấn Lương Sơn

Thị trấn Lương Sơn là một trong 20 xã, thị trấn của Huyện Lương Sơn, Tỉnh Hòa Bình. Thị trấn Lương Sơn là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của Huyện Lương Sơn. Địa bàn thị trấn có vị trí chiến lược quan trọng về quân sự và kinh tếtrong lịch sử cũng như trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thị trấn Lương Sơn là cửa ngõ của Tỉnh Hòa Bình, cách trung tâm Hà Nội 43km, các thành phố Hòa Bình 33km. Phía đông giáp xã Hòa Sơn của Huyện Lương Sơn và thị trấn Xuân Mai (Huyện Chương Mỹ - thành phố Hà Nội); Phía Tây giáp xã Lâm Sơn; phía Nam giáp hai xã Nhuận Trạch và Tân Vinh (Huyện Lương Sơn); Phía Bắc giáp xã Đông Xuân (Huyện Thạch Thất - thành phố Hà Nội).

Thị trấn Lương Sơn không chỉ là cửa ngõ của Tỉnh Hòa Bình mà còn là cửa ngõ của các tỉnh Tây Bắc vì quốc lộ 6 là tuyến giao thông huyết mạch Kinh tế - Quốc phòng từ thủ đô Hà Nội, nối các tỉnh đồng bằng lên các tỉnh miền núi Tây Bắc và ngược lại. Quốc lộ 6 chạy dọc trên địa bàn thị trấn dài 7 km, trước kia được gọi là đường thuộc địa 6. Con đường này được công sứ Lê-vi chỉ đạo khởi công xây dựng vào năm 1890 và hoàn thành vào năm 1901. Lúc mới hoàn thành đường 6 có độ dài 36km, mặt đường rộng 4m nối từ Hà Đông - Phương Hai - Lương Sơn (Hòa Bình). Cùng với quốc lộ 6 là tuyến đường 21 nối Thị trấn Lương Sơn với huyện Kim Bôi, Lạc Thủy và các huyện nối thành phố Hà Nội xuôi xuống đồng bằng.

Sông Bùi chảy qua Thị trấn Lương Sơn là một con sông quan trọng về giao thông đường thủy của Tỉnh Hòa Bình. Sông Bùi là chỉ lưu lớn của sông Tích có chiều dài 9km, chiều dài lưu vực là 8km, diện tích lưu vực là 33,1km2, chiều rộng bình quân lưu vực là 4,1km, hệ số uốn khúc sông là 1,13. Sông Bùi bắt nguồn từ dãy núi cao Trường Sơn chảy qua xã Cao Răm, Tân Vinh, Thị trấn Lương Sơn, Nhuận Trạch và chảy vào địa phận huyện Chương Mỹ - Hà Nội. Mực nước trung bình hàng năm của con sông là 1.987cm. Đây là con sông nhỏ, ngắn và dốc nên thường xảy ra lũ quét hàng năm. Ngoài ra trên địa bàn xã còn những con suối nhỏ, đây là nguồn cung cấp nước tưới quan trọng cho phát triển nông - lâm nghiệp.

Với những con đường giao thông huyết mạch đó, tạo cho Thị trấn Lương Sơn có vị trí chiến lược quan trọng là địa bàn chuyển tiếp giữa miền núi Tây Bắc và đồng bằng Bắc Bộ. Trong lịch sử, nhất là trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đây là địa bàn dành giật quyết liệt giữa ta và  địch để kiểm soát chiến trường. Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, vị trí địa lý của Thị trấn Lương Sơn là cơ hội, là điều kiện thuận lợi để phát triển giao lưu kinh tế, thương mại, văn hóa - xã hội với mọi miền tổ quốc.

Về phương diện địa chất và địa lý tự nhiên, Thị trấn Lương Sơn nằm trong vùng trung tâm của Huyện Lương Sơn. Đây là vùng núi cao xen kẽ núi đá vôi bao quanh ở phía Tây và Tây Nam; phía Đông có các dải đồi thấp và cánh đồng bằng phẳng. Nhân dân Thị trấn Lương Sơn chủ yếu sống xen cư dọc hai bên quốc lộ 6. Do vậy, Thị trấn Lương Sơn vừa có điều kiện phát triểnkinh tế thương mại, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, vừa có tiềm năng để phát triểnkinh tế nông - lâm nghiệp.

Nhìn chung, địa hình Thị trấn Lương Sơn có những thoải đồi xen kẽ đồng ruộng, mang tính trung du, thuộc tiểu vùng phù sa cổ hình thành từ đầu thế kỷ IV của Tỉnh Hòa Bình. Tiểu vùng phù sa cổ của Tỉnh Hòa Bình nằm dọc theo đường từ chợ Đồn đến chợ Bến; địa hình nhấp nhô, lượn sóng, gồm nhiều đồi thấp với độ cao không quá 25m và đỉnh các quả đồi thường có hình tròn; đôi chỗ xen kẽ đồi phiến thạch sét với độ cao lớn hơn và dốc hơn. Do chịu ảnh hưởng của hoạt độngtạo sơn, phù sa cổ thường bị nâng lên so với phù sa mới và phủ lên cả những đồi cao tới 25m. Tuy nhiên, hiện nay rừng ở khu vực này đã không còn, chỉ còn lại các cây bụi như sim, mua, có những quả đồi bị xói mòn mạnh trơ sỏi đá ra mặt. Ngoài đồi là đất ruộng, hầu hết đất ruộng ở đây đều phát triển trên nền phù sa cổ, rất tốt cho trồng cây công nghiệp.

Về tài nguyên khoáng sản trên địa bàn Thị trấn Lương Sơn không nhiều, chủ yếu là đá xanh, đá vôi phục vụ cho xây dựng cơ bản. Trong lịch sử, năm Tự Đức thứ 21, một người Hoa kiều đã được triều đình Huế cho phép khai thác mỏ vàng ở Mỗ Sơn (địa bàn thuộc Thị trấn Lương Sơn ngày nay) với 3.000 cu li. Năm 1903, một tư sản người Pháp là Babou đã tiếp tục công việc khai thác mỏ này ở Mỗ Sơn trước kia đã bỏ. Năm 1903, mỏ vàng này có 30 công nhân Hoa kiều, năm 1904 có 150 công nhân Hoa kiều và 50 người Mường, nhưng đến cuối năm 1905 lại bỏ vì không đủ phí tổn.

Về khí hậu, Thị trấn Lương Sơn được xếp trong nhóm cảnh quan đồng bằng thềm xâm thực- tích tụ với khí hậu chí tuyến ẩm. Tháng nóng nhất trên 25oC, có mùa đông với 3 tháng dưới 18oC, mùa hè trung bình, ít có tháng hạn.

Hiện nay, Thị trấn Lương Sơn có tổng diện tích đất tự nhiên 1.725,61ha, trong đó đất nông, lâm nghiệp 604,56ha, chiếm 35,47%. Đất chủ yếu là feralít đỏ vàng trên đá trầm tích, rất thích hợp trồng cây lương thực lâu năm, cây ăn quả, lúa, màu và cây công nghiệp ngắn ngày.

II. Lịch sử hình thành địa danh, địa giới hành chính, dân cư thị trấnLương Sơn

Thị trấn Lương Sơn ngày nay là vùng đất nằm trong Tỉnh Hòa Bình. Hòa Bình là miền đất cổ. Từ thuở xa xưa, trong khi hầu hết đồng bằng Bắc Bộ còn chìm dưới biển hoặc lầy lội không thể ở thì Hòa Bình chính là nơi trung tâm dân cư quan trọng. Cư dân nơi đây đã sáng tạo ra nền văn hóa nổi tiếng mà sau này được đặt tên là "Văn hóa Hòa Bình". Các nhà khảo cổ học khi nghiên cứu các di chỉ tại các hang làng Gạo, làng Đồi và hang Tằm ở Lương Sơn đã tìm thấy dấu vết cư trú và sinh sống của con người thời nguyên thủy thuộc thời đại đồ đá giữa và sơ kỳ đồ đá mới.

Trong giai đoạn chuyển tiếp từ thời kỳ đồ đá sang thời kỳ kim khí (từ Văn hóa Hòa Bình sang văn hóa Đông Sơn), giai đoạn hình thành nhà nước Văn Lang, Âu Lạc, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy 2 chiếc rìu hình lưỡi xòe rất cân xứng, 1 chiến rìu lưỡi xéo bằng đồng thau, 2 chiếc giáo đồng ở thôn Suối Cỏ, xã Hùng Sơn cũ. Có thể nói sự hiện diện của những di vật khảo cổ thời văn hóa Đông Sơn trên địa bàn xã Hùng Sơn cũ, trong đó có địa bàn Thị trấn Lương Sơn ngày nay là một bằng chứng sinh động về sự tiếp nối và sáng tạo nền Văn hóa Hòa Bình của những chủ nhân mảnh đất này.

Trong suốt chiều dài quá trình lịch sử dân tộc cũng như của Tỉnh Hòa Bình, của Huyện Lương Sơn, vùng đất Thị trấn Lương Sơn ngày nay thuộc về các địa danh khác nhau. Từ thời Hùng Vương đến hết thời kỳ Bắc thuộc, vùng đất này thuộc Bộ Gia Ninh; thời kỳ Lý thuộc huyện Mỹ Lương, phủ Quốc Oai, lộ Đà Giang; thời Trần thuộc huyên Mỹ Lương, phủ Quốc Oai, thị trấn Sơn Tây. Từ thời Lê Trung đến trước khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta (1858), địa bàn Thị trấn Lương Sơn ngày nay thuộc tổng Phương Hương, huyện Mỹ Lương, phủ Quốc Oai, thị trấn Sơn Tây. Theo sách "Tên làng xã Việt Nam thế kỉ XIX", tổng Phương Hương có 110 xã, thôn là: Phương Hương, Phương Lý (thôn Nhân Lý và An Lý), Nam Cai, Đăng Tiên, Trí Thủy, Mỗ Sơn, Kệ Sơn, Nhuận Trạch (thôn Xuân Mai). Địa bàn Thị trấn Lương Sơn ngày nay thuộc xã Mỗ Sơn.

Tháng 11/1880, Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu và Nguyễn Hữu Độ cho rằng, huyện Mỹ Lương và huyện Chương Đức của phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây có địa thế quan trọng, là phên dậu bảo vệ mặt sau cho Hà Nội và Sơn Tây nên tâu với triều đình gộp thành Đạo Mỹ Đức thuộc Hà Nội. Lúc này vùng đất Thị trấn Lương Sơn ngày nay thuộc Đạo Mỹ Đức. Ngày 22/6/1886, tỉnh Mường Hòa Bình được thành lập bao gồm 4 phủ: Vàng An (huyện Đức An), Lương Sơn, chợ Bờ, Lạc Sơn (huyện Lạc Thủy). Xã Mỗ Sơn thuộc phủ Lương Sơn được sáp nhập vào Đạo Mỹ Đức, Hà Nội. Gần một năm sau, ngày 18/3/1891, toàn quyền Đông Dương ra nghị quyết xóa bỏ lần thứ hai Đạo Mỹ Đức, sáp nhập châu Lương Sơn trở lại Tỉnh Hòa Bình. Đến thời điểm này, vùng đất Thị trấn Lương Sơn ngày nay thuộc xã Mỗ Sơn, tổng Cư Yên và một phần thuộc xã Quất Lâm, tổng Bằng Lộ, châu Lương Sơn, châu lỵ Lương Sơn đóng ở xóm Mòng. Cuối năm 1936, sau khi khai thông tuyến đường tắt Đồng Bái - Dốc Chum - Lâm Sơn, tri châu Đàm Quang Vinh chuyển châu lỵ về km 44 đường 6, tiến hành quy hoạch, xây dựng châu lỵ mới.

Cách mạng tháng 8/1945 thành công, chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn giữ nguyên Tỉnh Hòa Bình và các đơn vị châu xã như cũ, nhưng bãi bỏ cấp tổng đếm, năm 1950 đổi châu thành huyện.

Đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn củng cố, bảo vệ chính quyền cách mạng và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tháng 6 năm 1946, Liên khu III và Tỉnh Hòa Bình quyết định sáp nhập xã Mỗ Sơn và một phần xã Quất Lâm thành xã Hùng Sơn. Xã Hùng Sơn có 18 xóm với 319 hộ dân. Địa bàn Thị trấn Lương Sơn ngày nay bao gồm các xóm Mòng, Mỏ, Gò Bài, xóm Phố (khu vực xung quanh chợ Đồn), Bãi Lạng ...

Sau khi miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, do địa bàn bàn các xã trong tỉnh quá rộng, dân cư không tập trung, giao thông đi lại khó khăn, cán bộ ít, trình độ dân trí hạn chế nên tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân hành chính tỉnh đã trình Liên khu III quyết định chia nhỏ các xã. Ngày 27/7/1957, Ủy ban hành chính liên khu III đã ra Quyết đinh số: 469-TC/KB chia xã Hùng Sơn thành 3 xã: Hùng Sơn, Lâm Sơn và Hòa Sơn. Xã Hùng Sơn sau khi tách có 4 xóm là Mòng, Mỏ, Chợ Đồn, Đồng Bái với số dân 845 người.

Đến năm 1969, xã Hùng Sơn phát triển thành 8 xóm, phố là: Phố Chợ Đồn, xóm Bệnh Viện, Phố Nghĩa Trang, phố Bãi Lạng, Xóm Mỏ, Xóm Mòng Thượng, xóm Mòng Hạ và xóm Đồng Bái.

Ngày 01/01/1962,. Bộ Nông trường quyết định thành lập Nông trường Quốc doanh Cửu Long với địa dư bao gồm một số xã thuộc Huyện Lương Sơn, Kỳ Sơn, Cao Phong (Tỉnh Hòa Bình) và huyện Chương Mỹ (tỉnh Hà Tây cũ), trong đó có một phần địa bàn xã Hùng Sơn. Tháng 8 năm 1964, chính phủ quyết định chia Nông trường Cửu Long thành 3 nông trường là Cửu Long, Long Mỹ, Cao Phong. Nông trường Cửu Long nằm phần lớn trên địa bàn xã Hùng Sơn. Địa bàn hoạt độngsản xuất, kinh doanh của Nông trường Cửu Long rất rộng với số lượng lên tới hành nghìn cán bộ, công nhân. Nông trường cũng đã xây dựng được những công trình phúc lợi thiết yếu phục vụ đời sống sinh hoạt của gia đình cán bộ, công nhân như nhà trẻ, trường học, trạm xá, khu  vui chơi thể thao ... Do đó chính phủ đã quyết định thành lập thị trấn nông trường Cửu Long. Như vậy, trên địa bàn xã Hùng Sơn giai đoạn này cùng tồn tại song song hai đơn vị là thị trấn Nông trường và xã Hùng Sơn.

Đến ngày 06/9/1986, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định số 103-HĐBT về việc giải thể thị trấn Nông trường Cửu Long và xã Hùng Sơn để thành lập Thị trấn Lương Sơn (thị trấn huyện lỵ Huyện Lương Sơn). Đơn vị hành chính Thị trấn Lương Sơn chính thức được thành lập với 18 xóm, tiểu khu; diện tích tự nhiên là 1.925ha và 8.065 nhân khẩu. Từ đây, địa giới hành chính Thị trấn Lương Sơn ổn định tới nay. Đến năm 2010, Thị trấn Lương Sơn có 16 tiểu khu và 3 xóm nông nghiệp.

Về dân cư. Theo nghiên cứu của các nhà khảo cổ học, dân tộc học, lịch sử học, đến nửa sau thế kỷ thứ XVIII, phần lớn đất Hòa Bình vẫn là nơi cư trú của dân tộc Mường. Các tù trưởng Mường trải qua các triều đại Đinh, Lý, Trần, Hồ, Lê vẫn được nhà vua ưu đãi và cho duy trì hình thức cha truyền con nối, thay nhau giữ đất trị dân. Cho tới triều Nguyễn, chế độ tù trưởng được thay thế bằng chế độ lưu quan (quan lại triều đình nắm quyền cai quản địa phương). Như vậy, những người Kinh bắt đầu di chuyển lên đất Hòa Bình, trong đó có địa bàn xã Mỗ Sơn trước đây từ thời đó.

Ngoài ra, do chiến tranh loạn lạc, nghèo đói, người Kinh ở các tỉnh đồng bằng tha phương cầu thực lên đây lập nên làng, nên phố. Đặc biệt khi thực dân Pháp tới xã Mỗ Sơn chiếm đất lập đồn điền thì số dân miền xuôi bị bần cùng hóa phải lên đây làm thuê, làm mướn ngày một nhiều. Xã Mỗ Sơn (nay là Thị trấn Lương Sơn) vừa trở thành trung tâm châu Lương Sơn với các đồn binh, công sở của người Pháp, vừa trở thành 1 trung tâm dân cư mới.

Cho đến đầu thế kỷ XX, người Mường chính là chủ nhân chính của vùng đất Lương Sơn, trong đó có địa bàn Thị trấn Lương Sơn ngày nay.Tuy nhiên, dân cư khá thưa thớt. Theo thống kê của thực dân Pháp năm 1901, tổng số đinh của Hòa Bình là 3.956 người, phân bổ ở các châu. Châu Lương Sơn có 20 làng với 499 đinh, trong đó, làng Mỗ Sơn chỉ có 11 đinh.

Sau cách mạng tháng 8/1945, nhất là từ năm 1954 đến nay, do yêu cầu xây dựng và phát triểnkinh tế, văn hóa miền núi nên dân số, nhất là dân tộc Kinh của xã Hùng Sơn (nay là Thị trấn Lương Sơn) tăng nhanh. Tính đến năm 2010, dân số Thị trấn Lương Sơn là 3.480 hộ với 16.119 nhân khẩu. Trên địa bàn bàn thị trấn có 5 dân tộc đoàn kết cùng chung sống, trong đó dân tộc Mường chiếm 35%, dân tộc Kinh chiếm 64,5% và các dân tộc khác chiếm 0,5%. Thị trấn Lương Sơn là nơi có mật độ dân cư cao nhất Huyện Lương Sơn với 625 người/km2 (số liệu năm 2009), cũng là nơi có số dân thành thị đứng thứ 2 trong tỉnh (sau thành phố Hòa Bình) với 13.160 người, chiếm 11,7%.

                                                           DANH SÁCH
                                           Lãnh đạo UBND Thị trấn Lương sơn

STT

Họ và tên

Đơn vị công tác

 

1

Hoàng Trường Minh

BT Đảng ủy – Chủ tịch HĐND

0972325155

2

Hoàng Văn Bích

Phó BT TT Đảng ủy

01698172458

3

Nguyễn Khắc Sơn

Phó Chủ tịch HĐND

01699374439

4

Hoàng Văn Lập

Chủ tịch UBND

0912550735

5

Nguyễn Văn Dũng

Phó Chủ tịch UBND

01689294957

6

Nguyễn Văn Quỳnh

Phó CT UBND

0977403949

NOGTHONMOI

466636345423525

 

GIAY MOI copy copy

 phan anh kien nghi

FFFFFADA

Bản đồ hành chính huyện

ban do hanh chinh

Các khu công nghiệp

Văn bản mới

V/v báo cáo số lượng và lập danh sách đăng ký bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên các cấp học năm 2018

Báo cáo kết quả thực hiện pháp luật, chính sách đối với thanh niên trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Triển khai Nghị định số 61/2018/NĐ-CP về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính

Kế hoạch tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thời kêu gọi thi đua ái quốc

V/v báo cáo số lượng và lập danh sách đăng ký bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên các cấp học năm 2018

Báo cáo kết quả thực hiện pháp luật, chính sách đối với thanh niên trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Triển khai Nghị định số 61/2018/NĐ-CP về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính

Kế hoạch tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thời kêu gọi thi đua ái quốc

V/v báo cáo số lượng và lập danh sách đăng ký bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên các cấp học năm 2018

Báo cáo kết quả thực hiện pháp luật, chính sách đối với thanh niên trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Triển khai Nghị định số 61/2018/NĐ-CP về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính

Kế hoạch tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thời kêu gọi thi đua ái quốc

V/v báo cáo số lượng và lập danh sách đăng ký bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên các cấp học năm 2018

Báo cáo kết quả thực hiện pháp luật, chính sách đối với thanh niên trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Triển khai Nghị định số 61/2018/NĐ-CP về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính

Kế hoạch tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thời kêu gọi thi đua ái quốc

V/v báo cáo số lượng và lập danh sách đăng ký bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên các cấp học năm 2018

Báo cáo kết quả thực hiện pháp luật, chính sách đối với thanh niên trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Triển khai Nghị định số 61/2018/NĐ-CP về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính

Kế hoạch tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thời kêu gọi thi đua ái quốc

V/v báo cáo số lượng và lập danh sách đăng ký bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên các cấp học năm 2018

Báo cáo kết quả thực hiện pháp luật, chính sách đối với thanh niên trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Triển khai Nghị định số 61/2018/NĐ-CP về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính

Kế hoạch tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thời kêu gọi thi đua ái quốc

V/v báo cáo số lượng và lập danh sách đăng ký bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên các cấp học năm 2018

Báo cáo kết quả thực hiện pháp luật, chính sách đối với thanh niên trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Triển khai Nghị định số 61/2018/NĐ-CP về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính

Kế hoạch tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thời kêu gọi thi đua ái quốc

V/v báo cáo số lượng và lập danh sách đăng ký bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên các cấp học năm 2018

Báo cáo kết quả thực hiện pháp luật, chính sách đối với thanh niên trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Triển khai Nghị định số 61/2018/NĐ-CP về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính

Kế hoạch tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thời kêu gọi thi đua ái quốc


Tìm kiếm

Thống kê truy cập

hit counter

Template Settings

Color

For each color, the params below will be given default values
Blue Oranges Red

Body

Background Color
Text Color

Header

Background Color

Spotlight3

Background Color

Spotlight4

Background Color

Spotlight5

Background Color

Footer

Select menu
Google Font
Body Font-size
Body Font-family
Direction