I.ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN SỐ VÀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

Hợp Hòa là vùng đất có từ lâu đời, các thế hệ người dân Hợp Hòa đã bỏ biết bao công sức, mồ hôi, nước mắt và cả xương máu để xây dựng quê hương. Từ tháng 11 năm 1956, theo quyết định 548 của Ủy ban hành chính Liên khu III, xã Hợp Hòa được tách ra từ xã Cao Sơn và ổn định đến ngày nay.

          Xã Hợp Hòa có diện tích tự nhiên 967,75 ha, nằm ở phía Nam huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình (cách trung tâm huyện khoảng 4km). Phía bắc và phía Tây giáp xã Tân Vinh, phía Đông giáp xã Cư Yên, phía Nam giáp xã Cao Răm, có trục đường liên xã chạy qua, lại nằm gần thị trấn Lương Sơn nên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội.

Địa hình xã Hợp Hòa nghiêng dần từ Nam xuống Bắc, chia làm hai dạng chính. Thứ nhất: Là dạng địa hình đồi núi bao quanh xã, có độ cao từ 101 – 660 mét so với mặt nước biển, chiếm gần 70% diện tích tự nhiên. Ở địa hình này có phần lớn là diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng, còn lại là đất trống, trảng cỏ và cây bụi. Thứ hai: Là dạng địa hình thung lũng nằm chếch về phía Bắc xã, chiếm khoảng 30% tổng diện tích tự nhiên, có độ cao không đáng kể, là nơi tập trung dân sinh và sản xuất nông nghiệp.

          Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, lực lượng vũ trang xã và các đơn vị bộ đội đã dựa vào địa hình đồi núi để tụ quân, phát triển lực lượng, khi tiến thì bất ngờ, lúc rút lại nhanh gọn là hậu cứ an toàn, kín đáo.

Địa bàn xã có 4 loại đất chính: Đất thung lũng, đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa, đất đỏ vàng trên đá sét và đất vàng nhạt trên đá cát. Hiện nay toàn xã có gần 650 ha rừng, chủ yếu là keo và cây rừng khác, trữ lượng gỗ không đáng kể nhưng nguồn tài nguyên này lại có tác dụng bảo vệ môi trường.

Xã Hợp Hòa nằm trong tiểu vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, điều kiện khí hậu trong năm hình thành hai mùa chính: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình hàng năm 23c, tổng số giờ nắng trung bình hàng năm khoảng 1.624 giờ, độ ẩm trung bình hàng năm khoảng 84%. Lượng mưa trung bình hàng năm 1,769 mm/năm.

 Toàn xã có 6 xóm 540 hộ, 2487 nhân khẩu, 1767 lao động. (Trong đó: Lao động nam là 899, nữ là 866). Nền kinh tế của xã chủ yếu là sản xuất NLN. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, du lịch thương mại phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của xã.

Về cơ cấu kinh tế của xã hiện nay:

-         Nông lâm ngư nghiệp chiếm 62,4%.

-         Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng chiếm 15,6%.

-         Dịch vụ, du lịch, thương mại chiếm 22%.

Tình hình lao động tại xã hiện nay chủ yếu là lực lượng lao động nông nghiệp chưa qua đào tạo cơ bản, chưa có kiến thức cơ bản về KHKT. Số lao động được đào tạo, tập huấn kiến thức qua các lớp tập huấn hàng năm về kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi mơí chỉ chiếm khoảng 20% trong tổng số lao động trong toàn xã, số lao động được đào tạo các loại nghề từ sơ cấp nghề trở lên mới chỉ chiếm khoảng 8,5% số lao động trong xã. Do vậy năng xuất lao động trong sản xuất NLN và các ngành nghề khác còn thấp so với các khu vực khác trong huyện và tỉnh. Chưa đáp ứng được nhu cầu lao động hiện nay của thị trường.

           Hợp Hòa là vùng đất có từ lâu đời, người Mường đầu tiên đến với vùng đất này đã vững chí, bền lòng phát hoang, đuổi thú dữ, canh tác, săn bắn, hái lượm và dần dần định cư thành những xóm, làng. Tuy nhiên thời gian đó cây cối còn rậm rạp, giao thông đi lại khó khăn. Trên núi còn nhiều loại thú dữ như hổ, báo, gấu.. đe dọa đời sống của nhân dân trong vùng. Trải qua các thời kỳ lịch sử, các thế hệ người dân Hợp Hòa đã tiếp tục lao động, bỏ mồ hôi, công sức để tạo dựng quê hương.

          Trong chiến đấu, lao động, sản xuất quân và dân xã Hợp Hòa luôn luôn đoàn kết một lòng theo Đảng và đạt được nhiều thành tích, đặc biệt.

          Đêm 22 tháng 12 năm 1972, lực lượng tự vệ liên cơ Hà Nội bắn cháy một chiếc máy bay F111 của Mỹ. Thân máy bay rơi xuống địa phận xóm Suối Cỏ, xã Hợp Hòa, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, toàn bộ dù, buồng lái và khoang lái cùng với 2 tên phi công rơi xuống đồi Ông Mo, thuộc cao điểm 833, đồi Bù. Ngay lập tức lực lượng dân quân xã Hợp Hòa dưới sự chỉ đạo của đồng chí Hoàng Văn Thâm – Bí thư chi bộ và đồng chí Hoàng Văn Thọ - Xã đội trưởng đã phối hợp với dân quân các xã Cao Răm, Tân Vinh, Cư Yên truy bắt giặc lái máy bay.

          Cuộc vây bắt diễn ra trong điều kiện thời tiết mưa, rét địa hình rừng núi phức tạp, rộng lớn nhưng có sự chỉ đạo sát sao của quân khu, của bộ chỉ huy quân sự tỉnh, huyện. Lực lượng được trang bị như súng CKC, súng AK, súng 12,7 ly và 6 khẩu 23 ly, 11 khẩu trung liên, 3 khẩu cối 82 ly, bố trí chặt chẽ, dàn hàng ngang lùng sục từng cụm cây hốc đá. Tổng số lực lượng tham gia chiến đấu, vây bắt giặc lái lên tới 543 người (tương đương với quân số 1 trung đoàn bộ đội chính quy). Đến 2 giờ ngày 23 tháng 12 năm 1972, lực lượng dân quân xã phát hiện khoang buồng lái và chiếc dù của địch tại đồi Vầu. Tiếp tục truy tìm, đến 6 giờ cùng ngày lực lượng dân quân phát hiện thêm một ống nghe của giặc rơi cạnh đó, toàn bộ tang vật được giao cho cấp trên.

          Vào khoảng 16 giờ 45 phút ngày 24, một tổ dân quân của xã phát hiện ra một tên giặc lái núp sau tảng đá có ngụy trang kín đáo. Bẳng sự mưu trí, dũng cảm, các đồng chí Đinh Công Vinh, Bùi Văn Điềm, Quách Thị Nghi, Hoàng Thị Ngãi đã khép vòng vây bắt sống tên giặc lái này.

      16 giờ 30 phút ngày 26 tháng 12 năm 1972 những triệu chứng cứu vớt phi công của không quân Mỹ xuất hiện, có nhiều tốp máy bay phản lực cứ nhào lộn xuống khu vực bắt được tên giặc lái thứ nhất ở điểm cao 673 ném Bom Bi và đạn Rốc Két vào bản làng của xã. Lực lượng phòng không của dân quân xã phối kết hợp với các đơn vị bạn đã bắn trả máy bay quyết liệt.

      16 giờ 30 phút ngày 28 tháng 12 năm 1972 chiến sỹ trinh sát đã phát hiện ra chiếc máy bay trực thăng bay thấp qua những thung lũng đến đồi Vầu dừng lại trên không chừng 10 phút. Một tổ dân quân của xã gồm 3 đồng chí đã phối hợp với 2 đồng chí ở Đại đội 115 chỉ cách máy bay chừng 30m, dùng súng trường và súng tiểu liên AK đồng loạt nổ súng, chiếc máy bay của địch bốc cháy và lao về phía Việt Lào.

Ngày 29 tháng 12 năm 1972, hai chiếc F8 lượn hàng chục vòng quanh cao điểm 833 và 673, các chiến sỹ dân quân tự vệ phát hiện thấy một phát pháo hiệu xanh bắn lên, chiếc F8 bổ nhào và thả đồ vật vào chỗ đạn khói. Đến 9 giờ ngày 29 tháng 12 năm 1972, lực lượng dân quân tự vệ của xã đã phối hợp với dân quân các xã bạn dũng cảm vượt qua bom đạn, bụi khói của máy bay tiến lên Thung Măng bắt sống tên giặc lái thứ hai, kết thúc cuộc vây bắt gian khổ, ác liệt trong bảy ngày đêm. Tên giặc lái Mỹ thiếu tá Uyliam Oalát UynSon và đại úy Rôbất Đavit Sfo Ray bangiơ bị bắt, có sự đóng góp không nhỏ của cán bộ, đảng viên và nhân dân cùng dân quân du kích xã Hợp Hòa. Chiến thắng đồi Bù đã đi vào lịch sử, đó là một trong những trận đánh kiên cường với máy bay và truy quét giặc lái của nhân dân xã Hợp Hòa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc.

Chiến thắng đồi Bù là chiến thắng xuất sắc, độc đáo nhất, là chiến thắng của đường lối quân sự của Đảng, được chi bộ,chính quyền và nhân dân xã Hợp Hòa vận dụng linh hoạt kịp thời. Là cuộc chiến đấu khá dài ngày, có hiệu suất cao, lực lượng đông đảo. Lãnh đạo tập thể tập trung cao nhất, huy động nhân tài vật lực tham gia chiến đấu, vừa tổ chức phòng tránh tốt, vừa làm tốt công tác tuyển quân theo chỉ tiêu trên giao, bảo vệ quê hương. Cả xã có 178 hộ thì có 165 hộ tham gia chiến đấu, có gia đình tham gia cả nhà (gia đình ông Lảnh 5 bố con, gia đình Mế Bi 4 mẹ con). Nhiều tấm gương dũng cảm mưu trí bám trận địa như Nguyễn Văn Bình, Đinh Công Vinh, Hoàng Văn Điền, Hoàng Thị Bướm, Hoàng Thị Xô, không ngại gian khổ ác liệt, lao vào bắt giặc lái như đồng chí Định Ngọc Bài và một số đồng chí khác, đồng chí Hoàng Thị Bản, Hoàng Thị Nghè dẫm phải gốc lành hanh chân bị sưng tấy, nhức buốt nhưng vẫn không rời bỏ nhiệm vụ. Vợ chồng anh Đinh Công Quỳnh và chị Hoàng Thị Riên đang truy quét giặc lái thì ngày 25 tháng 12 năm 1972 được lệnh nhập ngũ, chị đã động viên thu xếp công việc tiễn đưa chồng lên đường, sau đó lại tiếp tục lên trận địa tham gia chiến đấu.

Trong trận chiến đấu nhân dân xã Hợp Hòa đã đóng góp hàng chục tạ gạo, 8 con lợn, 1 con trâu, có nhà tự nguyện mang cả gạo ăn tết hoặc lo cưới ủng hộ, nhiều nhà cho mượn xoong nồi để phục vụ. Đây là một chiến công xuất sắc nhất của cán bộ, đảng viên và nhân dân xã Hợp Hoà, được Chính phủ tặng thưởng một huân chương kháng chiến hạng nhất, một huân chương kháng chiến hạng ba. Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu đơn vị “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

        Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc thắng lợi đã mở ra một thời kỳ mới: Đất nước được độc lập, thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Cùng với cả nước, cán bộ, đảng viên và nhân dân xã Hợp Hòa bước vào thời kỳ mới trong bối cảnh tình hình đất nước sau ngày “non sông thu về một mối” có những thuận lợi cơ bản. Đó là không khí phấn khởi, quần chúng nhân dân tràn ngập niềm vui, tinh thần cách mạng dâng cao đã trở thành nguồn động lực to lớn trong thời kỳ tập trung lực lượng tái thiết đất nước. Đặc biệt trong thời kỳ đổi mới xã Hợp Hòa đã đạt nhiều thành tích trong xây dựng Nông thôn mới.

II. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐẾN 2020:

1.Về phát triển kinh tế nông lâm nghiệp:

Mục tiêu đến năm 2020: Trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, xã sẽ mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, từng bước phát triển ngành NLN theo hướng sản xuất hàng hoá.

Quy hoạch sản xuất cây trồng vật nuôi, coi trọng phát triển kinh tế nông lâm nghiệp kết hợp xây dựng các mô hình tiêu biểu, trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, trên cơ sở lựa chọn giống cây, giống con thích hợp để nhân ra diện rộng, (Chú trọng đến quy hoạch vùng sản xuất rau an toàn).

Từng bước đầu tư cơ sở vật chất cho nông nghiệp, nông thôn, khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình, phát triển kinh tế trang trại với quy mô và hình thức phù hợp.

Thực hiện mục tiêu lấy kinh tế VACR làm mũi nhọn phát triển, nhằm phát huy tiềm năng và lợi thế của địa phương.

Từng bước phát triển ngành nghề, dịch vụ, thương mại đến năm 2020 đưa tỷ trọng thu nhập từ ngành nghề, dịch vụ, thương mại chiếm khoảng 30% tổng thu nhập của nền kinh tế trong xã.

*Phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tạo thêm nhiều việc làm mới, tăng thu nhập cho người lao động, cải thiện và nâng cao đời sống cho nhân dân.

Tiếp tục phát triển mạnh ngành nghề, dịch vụ để nâng cao tỷ trọng thu nhập trong cơ cấu kinh tế, phấn đấu hoàn thành kế hoạch thu ngân sách hàng năm.

Tích cực trồng rừng, trồng các loại cây ăn quả có giái trị kinh tế cao. Tập trung trồng rừng sản xuất thành khu nguyên liệu cho công tác chế biến bột giấy và chế biến các loại gỗ ván sàn.

Trong sản xuất nông nghiệp, như cấy lúa, trồng màu. Tập trung áp dụng đồng bộ các tiến bộ KHKT vào sản xuất, các giống cây con có giá trị kinh tế cao. ổn định an ninh lương thực, đẩy mạnh phát triển chăn nuôi gia cầm, gia súc thành mô hình kinh tế trang trại, thành hàng hoá, đem lại lợi ích kinh tế cao cho hộ gia đình và cho xã hội.

Quy hoạch diện tích đất phù hợp từ nay đến năm 2020 khoảng 10 ha, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên các loại cây rau cho 10 nhóm sản xuất nông nghiệp hữu cơ.

Tiếp tục chuyển đổi các diện tích cấy lúa bấp bênh không ăn chắc sang trồng ngô và các loại cây trồng khác có giá trị kinh tế cao.

2. Về phát triển văn hoá xã hội:

2.1.Về giáo dục:

Tiếp tục duy trì và phát triển ba trường học đó là: (Trường mầm non, trường Tiểu học và Trung học cơ sở). Từng bước đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học, nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên, chất lượng học của học sinh. Đẩy mạnh chất lượng học sinh ở cả 3 trường,  nâng cao tỷ lệ học sinh khá và giỏi đạt từ 50% trở lên, không có học sinh yếu kém.

Duy trì và thực hiện tốt công tác phổ cập giáo dục đúng độ tuổi. Huy động trẻ trong độ tuổi ra lớp hàng năm đạt tỷ lệ từ 98% trở lên.

Thực hiện tốt công tác xã hội hoá giáo dục, kết hợp các loại hình đào tạo, cùng với trung tâm học tập cộng đồng xã tổ chức liên kết các loại hình đào tạo, phát triển đào tạo dạy nghề giúp cho người học tiếp cận với trình độ khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất nông lâm nghiệp.

2.2.Về y tế, dân số, gia đình và trẻ em:

   - Về y tế: Từng bước nâng cấp nhà làm việc, trang thiết bị đảm bảo công tác khám chữa bệnh ban đầu cho nhân dân, đảm bảo biên chế đội ngũ cán bộ, nhân viên trạm, phấn đấu đến năm 2015 có Bác sỹ công tác tại trạm. Thực hiện tốt các chương trình ytế Quốc gia.

- Phấn đấu đến năm 2020 Trạm ytế xã được công nhận là trạm chuẩn Quốc gia.

-  Về dân số, Gia đình và trẻ em:

- Hàng năm đảm bảo tỷ lệ trên 98% trẻ (Dưới 1 tuổi) đựơc tiêm chủng đầy đủ các loại vác xin theo quy định, thực hiện tốt chương trình phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ em, phấn đấu tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng giảm còn 15% năm 2011, đến năm 2020 tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng chỉ còn khoảng 10%.

- Thường xuyên tuyên truyền vận động tới toàn thể cán bộ và nhân dân thực hiện tốt công tác kế hoạch hoá gia đình, mỗi cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ chỉ có từ 1 đến 2 con để có điều kiện nuôi dạy con cho tốt.

2.3 Về phát triển văn hoá thông tin:       

- Phấn đấu hàng năm số hộ đạt gia đình văn hoá trong toàn xã đạt từ 65% trở lên. Đến năm 2020 phấn đấu 90% trở lênsố hộ gia đình đạt văn hoá.

- Số làng đạt danh hiệu làng văn hoá: Năm 2015 phấn đấu đạt 3 làng, đến năm 2020 Phấn đấu đạt 5/6 làng văn hoá, đạt 83.3%.

- Từng bước đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các nhà văn hoá xóm để hoạt động. Đến năm 2020 phấn đấu xây dựng hoàn chỉnh một thư viện trung tâm xã.

 - Về thể dục, thể thao: Thường xuyên xây dựng kế hoạch và phát động phong trào luyện tập thể dục, thể thao trong quần chúng nhân dân. Phấn đấu đến năm 2020 có 65% dân số tham gia luyện tập thể dục, thể thao thường xuyên, 50% số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình thể thao.

- Hàng năm phải thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền các chủ trương chính sách mới của Đảng, pháp luật của Nhà Nước, các chủ trương, nghị quyết về phát triển kinh tế, văn hoá xã hội của địa phương  để nhân dân nắm bắt và thực hiện.

3. Công tác xoá đói, giảm nghèo. Tạo việc làm mới:

- Tiếp tục thực hiện tốt công tác xóa đói, giảm nghèo, bằng các chương trình, dự án, bằng sự nỗ lực vươn lên của từng hộ gia đình, tiếp tục thực hiện chương trình đào tạo nghề cho nông dân, cho thanh niên nông thôn, mở mang ngành nghề, tạo thêm nhiều việc làm mới.

- Phấn đấu đến 2020 giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 4%.

4. Về quản lý tài nguyên và môi trường:

- Khai thác hợp lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên (Đất, nước, khoáng sản, môi trường)  một cách bền vững, tiết kiệm và hiệu quả, khai thác có hiệu quả quỹ đất, phân bổ, sử dụng quỹ đất hợp lý theo hướng đáp ứng cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp, dịch vụ, thương mại và công nghiệp.

- Điều tra, đánh giá quá trình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo hiện trạng. Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2010- 2020 trình cấp có thẩm quyền xem xét phê duyệt.

- Kiên quyết không để tình trạng ô nhiễm môi trường vượt quá mức cho phép xẩy ra trên địa bàn.

- Phấn đấu ổn định độ che phủ rừng đạt 75%.

- Trên 85% số hộ sử dụng nước hợp vệ sinh.

5. Về an ninh - Quốc phòng:

- Phát triển kinh tế xã hội gắn với củng cố Quốc Phòng - An Ninh. Xây dựng thế trận Quốc phòng toàn dân, thế trận An Ninh nhân dân vững mạnh. Đảm bảo giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn xã.

 
                                                          THÔNG TIN CÁ NHÂN
                       LÃNH ĐẠO ĐẢNG ỦY, HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, ỦY BAN NHÂN DÂN
 

Số TT

Họ và tên

Chức vụ

Số điện thoại

1

Hoàng Ánh Điện

Bí thư Đảng ủy- Chủ tịch HĐND

0915096516

 

2

Hoàng Văn Trung

Phó bí thư thường trực Đảng ủy

0914518341

 

3

Đinh Công Lộc

Phó chủ tịch HĐND

0936641047

 

4

Hoàng Kim Quy

Chủ tịch UBND

0915716199

 

5

Đinh Công Hoan

Phó chủ tịch UBND

0984933177

 

NOGTHONMOI

466636345423525

 

GIAY MOI copy copy

 phan anh kien nghi

FFFFFADA

Bản đồ hành chính huyện

ban do hanh chinh

Các khu công nghiệp

Văn bản mới

V/v báo cáo số lượng và lập danh sách đăng ký bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên các cấp học năm 2018

Báo cáo kết quả thực hiện pháp luật, chính sách đối với thanh niên trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Triển khai Nghị định số 61/2018/NĐ-CP về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính

Kế hoạch tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thời kêu gọi thi đua ái quốc

V/v báo cáo số lượng và lập danh sách đăng ký bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên các cấp học năm 2018

Báo cáo kết quả thực hiện pháp luật, chính sách đối với thanh niên trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Triển khai Nghị định số 61/2018/NĐ-CP về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính

Kế hoạch tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thời kêu gọi thi đua ái quốc

V/v báo cáo số lượng và lập danh sách đăng ký bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên các cấp học năm 2018

Báo cáo kết quả thực hiện pháp luật, chính sách đối với thanh niên trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Triển khai Nghị định số 61/2018/NĐ-CP về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính

Kế hoạch tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thời kêu gọi thi đua ái quốc

V/v báo cáo số lượng và lập danh sách đăng ký bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên các cấp học năm 2018

Báo cáo kết quả thực hiện pháp luật, chính sách đối với thanh niên trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Triển khai Nghị định số 61/2018/NĐ-CP về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính

Kế hoạch tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thời kêu gọi thi đua ái quốc

V/v báo cáo số lượng và lập danh sách đăng ký bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên các cấp học năm 2018

Báo cáo kết quả thực hiện pháp luật, chính sách đối với thanh niên trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Triển khai Nghị định số 61/2018/NĐ-CP về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính

Kế hoạch tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thời kêu gọi thi đua ái quốc

V/v báo cáo số lượng và lập danh sách đăng ký bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên các cấp học năm 2018

Báo cáo kết quả thực hiện pháp luật, chính sách đối với thanh niên trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Triển khai Nghị định số 61/2018/NĐ-CP về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính

Kế hoạch tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thời kêu gọi thi đua ái quốc

V/v báo cáo số lượng và lập danh sách đăng ký bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên các cấp học năm 2018

Báo cáo kết quả thực hiện pháp luật, chính sách đối với thanh niên trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Triển khai Nghị định số 61/2018/NĐ-CP về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính

Kế hoạch tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thời kêu gọi thi đua ái quốc

V/v báo cáo số lượng và lập danh sách đăng ký bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên các cấp học năm 2018

Báo cáo kết quả thực hiện pháp luật, chính sách đối với thanh niên trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Triển khai Nghị định số 61/2018/NĐ-CP về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính

Kế hoạch tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thời kêu gọi thi đua ái quốc


Tìm kiếm

Thống kê truy cập

hit counter

Template Settings

Color

For each color, the params below will be given default values
Blue Oranges Red

Body

Background Color
Text Color

Header

Background Color

Spotlight3

Background Color

Spotlight4

Background Color

Spotlight5

Background Color

Footer

Select menu
Google Font
Body Font-size
Body Font-family
Direction