Tổng hợp tin

Lịch sử văn hóa, điều kiện tự nhiên, dân số, kết quả và định hướng phát triển kinh tế - xã hội

đến năm 2020 xã Cao Răm  

I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN SỐ VÀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

Cao Răm là vùng đất có từ lâu đời, người Mường đến với vùng đất này đã khắc phục khó khăn, vững chí, bền lòng khai hoang, canh tác… tạo dựng nên những xóm làng trù phú như ngày nay. Trải qua những biến thiên của lịch sử, những người con của xã Cao Răm đã ra sức lao động, bỏ mồ hôi, công sức xây dựng quê hương ngày một phát triển. Căn cứ vào địa hình và điều kiện đất đai, ngày 15 tháng 11 năm 1968, được sự ủy nhiệm của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nội vụ đã ra Quyết định số 631/QĐ-NV, sáp nhập 2 xã Cao Sơn và Đào Lâm thành một xã lớn lấy tên là xã Cao Răm.

Xã Cao Răm là một xã vùng sâu của huyện Lương Sơn, Cao Răm nằm ở phía Tây Nam của huyện, cách trung tâm thành phố Hòa Bình khoảng 30 km và cách trung tâm huyện Lương Sơn 10 km. Xã nằm ở một thung lũng, xung quanh có dãy núi đá vôi và núi đồi bao bọc, với chiều dài là 7 km và chiều rộng là 4 km. Phía Bắc giáp xã Tân Vinh (huyện Lương Sơn); phía Nam giáp xã Bắc Sơn (huyện Kim Bôi); phía Đông giáp xã Hợp Hòa, xã Liên Sơn (huyện Lương Sơn), xã Nam Phương Tiến (Chương Mỹ - Hà Nội) và phía Tây giáp xã Trường Sơn (huyện Lương Sơn). Với tổng diện tích đất tự nhiên là 3.401,0 ha.

Địa hình của xã mang những nét đặc thù chung khu vực Tây Bắc, được chia thành hai vùng rõ rệt đó là: Vùng thung lũng hẹp tương đối bằng phẳng và vùng đồi núi dốc. Vùng thung lũng chủ yếu phân bố gần trung tâm Ủy ban xã gồm các xóm: Vai Đào, Đồng Lau, Quê Sụ, Hui, Sáng, Trại Mới và xóm Cao. Vùng đồi núi nằm ở phía Tây của xã gồm các xóm: Khuộc, Ngọc Lâm. Với tuyến đường giao thông chính là trục đường liên xã từ thị trấn Lương Sơn qua xã Hợp Hòa đi Ủy ban nhân dân xã Cao Răm, với tổng chiều dài khoảng 7 km. Ngoài ra xã còn có các đường liên thôn, liên xóm, hiện nay đã được rải đá cấp phối.

Xã Cao Răm nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và mưa nhiều, có hai mùa chính: mùa đông và mùa hè. Mùa hè kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, có gió mùa Đông Nam kèm theo mưa nhiều, nhiệt độ trung bình vào khoảng 28,10C, cao nhất vào các tháng 6, 7, 8, số giờ nắng khá cao, trung bình 1.667 giờ. Mùa đông khô, lạnh, mưa ít và kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, mùa khô có gió mùa Đông bắc kèm theo giá rét, có năm sương muối, sương giá. Nhiệt độ trung bình vào khoảng 20,40C. Tháng 1, tháng 2 nhiệt độ thấp tuyệt đối khoảng 6,60C. Xen kẽ hai mùa chính là mùa thu mát mẻ và mùa xuân ấm áp. Cao Răm chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính là gió Đông Nam và gió Đông Bắc.

Lượng mưa trung bình trong năm là 1.758mm, lúc cao nhất vào khoảng 1.856mm, thấp nhất vào khoảng 1.086mm. Do ảnh hưởng của gió mùa Đông bắc từ tháng 12 năm trước và tháng 1, tháng 2 năm sau, lượng mưa giảm đi rõ rệt. Nhiều năm chỉ đạt 12,3mm. Mùa hè số ngày mưa và lượng mưa cao từ tháng 5 đến tháng 10, tập trung chủ yếu vào các tháng 6, 7, 8 (chiếm tới 80% lượng mưa cả năm). Số ngày mưa bình quân dao động từ 110 - 120 ngày.

Độ ẩm không khí cao, dao động từ 60 - 90%. Mùa khô độ ẩm xuống thấp chỉ còn từ 60 - 70% nhất là vào tháng 1, tháng 2. Tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 8, tháng 9, độ ẩm lên tới 85 - 90%. Lượng bốc hơi trung bình hàng năm 1.066mm, năm cao nhất 1.151mm, năm thấp nhất 987mm.

Đặc điểm khí hậu, thời tiết, độ ẩm và lượng mưa như vậy đã tạo điều kiện cho Cao Răm phát triển một hệ thống cây, con phong phú, đa dạng. Tuy nhiên, hàng năm thiên nhiên cũng gây không ít khó khăn, trở ngại cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp: Lũ quét, hạn hán, sâu bệnh phát triển mạnh…

Khu vực xã Cao Răm chịu ảnh hưởng bởi lưu lượng nước của các suối nhỏ và các mạch nước ngầm. Đặc biệt, xã có một con suối bắt ngồn từ đồi Bù (Ngọc Lâm) chảy xuống xóm Vai Đào qua xóm Đồng Lau rồi về xóm Cao, là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho các xóm trong xã. Do xã chưa có hệ thống đập chứa nước nên hàng năm vào mùa mưa lũ thường gây ra ngập úng và lũ nhỏ, mùa khô gặp khó khăn trong việc cung cấp nước sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn xã. Sông suối chiếm diện tích 35,46ha diện tích đất tự nhiên của xã.

Theo tài liệu thổ nhưỡng học tỉnh Hòa Bình, xã Cao Răm có 6 loại đất chính:

Đất phù sa ngòi suối có diện tích: 19,23 ha, chiếm 0,53% diện tích tự nhiên, đây là đất dùng để trồng lúa và hoa màu.

Đất đỏ vàng bị biến đổi do trồng lúa có diện tích: 276 ha, chiếm 7,35% diện tích tự nhiên.

Đất dốc tụ có diện tích: 32,30ha, chiếm 0,89% diện tích tự nhiên. Đây là diện tích để trồng lúa và cây hoa màu.

Đất vàng nhạt trên đá cát có diện tích:1.448ha, chiếm 39,86% diện tích đất tự nhiên, đất này có khả năng phát triển cây lâm nghiệp.

Đất đỏ vàng trên đá sét có diện tích: 1.100ha, chiếm 30,29% diện tích đất tự nhiên, đất này thích hợp với việc phát triển lâm nghiệp.

Núi đá có diện tích: 730ha, chiếm 20,1% diện tích đất tự nhiên.

Xã Cao Răm có hơn 800 ha đất rừng, chủ yếu là rừng trồng và trên 82 ha rừng phòng hộ do Ủy ban nhân dân xã và các hộ gia đình quản lý. Rừng ở Cao Răm chủ yếu là rừng keo lá chàm, được trồng để phủ xanh đất trống, đồi trọc và phát triển nền kinh tế.

Cao Răm có một cảnh quan thiên nhiên hết sức phong phú, nằm giữa những dãy núi đá vôi, lại là một thung lũng cổ, chỉ rộng chừng 3 km2, nhưng nơi đây hiện đang có tới 4 di tích cấp Quốc gia, có những thắng cảnh đẹp, không khí trong lành, mát mẻ… là một trong những thế mạnh của Cao Răm. Đây chính là nguồn tài nguyên quý báu và dồi dào mà thiên nhiên hào phóng đã ban tặng cho vùng đất này. Tuy nhiên, việc khai thác những điều kiện thuận lợi trên như thế nào để có hiệu quả đối với việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương đang là một vấn đề khó đặt ra cho Đảng bộ và chính quyền xã.

Như vậy, Cao Răm là xã có lợi thế về tiềm năng đất đai, lao động và nhiều nguồn tài nguyên phong phú, môi trường khí hậu trong lành, mát mẻ rất thuận lợi để xã tập trung phát triển lâm nghiệp, chăn nuôi, và các loại hình, mô hình du lịch sinh thái. Tuy nhiên, xã lại ở cách xa trung tâm văn hóa, kinh tế của huyện, trình độ dân trí chưa cao, nên đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, đây cũng là một thách thức đối với đội ngũ lãnh đạo xã và nhân dân Cao Răm.

Toàn xã 9 xóm, gồm 1.068 hộ, 4.875 nhân khẩu. Trong đó: dân tộc Mường chiếm 91,3% ; dân tộc Kinh 3,2%; dân tộc Dao 3,5%. Nề kinh tế của xã chủ yếu là sản xuất Nông, lâm nhiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ du lịch, thương mại phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của địa phương.

Cơ cấu kinh tế của xã hiện nay:

            - Nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 73%.

            - Công nghiệp, xây dựng tiểu thủ công nghiệp chiếm 16%.

            - Dịch vụ, dịch vụ thương mại chiếm 11% .

Tình hình lao động hiện nay chủ yếu là lực lượng lao động nông, lâm nghiệp chưa qua đào tạo cơ bản, chưa có kiến thức về Khoa học kỹ thuật. Số lao động được đào tạo, tập huấn kiến thức qua các lớp tập huấn hàng năm về kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi mớí chỉ chiếm khoảng 25% trong tổng số lao động trong toàn xã, số lao động được đào tạo các loại nghề từ sơ cấp nghề trở lên mới chỉ chiếm khoảng 7,5% số lao động trong xã. Do vậy năng xuất lao động trong sản xuất nông, lâm nghiệp và các ngành nghề còn thấp so với các khu vực khác trong huyện.

II. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐẾN 2020:

  1. Về phát triển kinh tế nông lâm nghiệp:

  2. Về phát triển văn hoá xã hội:

Mục tiêu đến năm 2020: Trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, xã sẽ mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, từng bước phát triển ngành nông lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá.

Quy hoạch sản xuất cây trồng vật nuôi, coi trọng phát triển kinh tế nông, lâm, nghiệp kết hợp xây dựng các mô hình tiêu biểu, trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, trên cơ sở lựa chọn giống cây, giống con thích hợp để nhân ra diện rộng, chú trọng đến quy hoạch vùng sản xuất rau an toàn.

Từng bước đầu tư cơ sở vật chất cho nông nghiệp, nông thôn, khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình, phát triển kinh tế trang trại với quy mô và hình thức phù hợp.

Thực hiện mục tiêu lấy kinh tế VACR làm mũi nhọn phát triển, nhằm phát huy tiềm năng và lợi thế của địa phương.

Từng bước phát triển ngành nghề, dịch vụ, thương mại đến năm 2020 đưa tỷ trọng thu nhập từ ngành nghề, dịch vụ, thương mại chiếm khoảng 25% tổng thu nhập của nền kinh tế trong xã.

Phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tạo thêm nhiều việc làm mới, tăng thu nhập cho người lao động, cải thiện và nâng cao đời sống cho nhân dân.

Tiếp tục phát triển mạnh ngành nghề, dịch vụ để nâng cao tỷ trọng thu nhập trong cơ cấu kinh tế, phấn đấu hoàn thành kế hoạch thu ngân sách hàng năm.

Tích cực trồng rừng, trồng các loại cây ăn quả có giái trị kinh tế cao. Tập trung trồng rừng sản xuất thành khu nguyên liệu cho công tác chế biến bột giấy và chế biến các loại gỗ ván.

Trong sản xuất nông nghiệp, như cấy lúa, trồng màu. Tập trung áp dụng đồng bộ các tiến bộ KHKT vào sản xuất, các giống cây con có giá trị kinh tế cao, ổn định an ninh lương thực, đẩy mạnh phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm, thành mô hình kinh tế trang trại, thành hàng hoá, đem lại lợi ích kinh tế cao cho hộ gia đình và cho xã hội.

Quy hoạch diện tích đất phù hợp từ nay đến năm 2020 khoảng 10 ha, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên các loại cây rau cho 9 xóm sản xuất nông nghiệp hữu cơ.

Tiếp tục chuyển đổi các diện tích cấy lúa bấp bênh không ăn chắc sang trồng ngô, gấc và các loại cây trồng khác có giá trị kinh tế cao.

2.1.Về giáo dục:

Tiếp tục duy trì ba trường học: Trường Mầm Non, trường Tiểu học và Trung học cơ sở. Từng bước đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học, nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên, chất lượng học của học sinh. Đẩy mạnh chất lượng học sinh ở cả 3 Trường, hàng năm  tỷ lệ học sinh khá và giỏi đạt tỷ lệ từ 50% trở lên, không có học sinh yếu kém.

Duy trì và thực hiện tốt công tác phổ cập giáo dục đúng độ tuổi. Huy động trẻ trong độ tuổi ra lớp hàng năm đạt tỷ lệ từ 98% trở lên.

Thực hiện tốt công tác xã hội hoá giáo dục, kết hợp các loại hình đào tạo, cùng với Trung tâm học tập cộng đồng xã tổ chức liên kết các loại hình đào tạo, phát triển đào tạo dạy nghề giúp cho người học tiếp cận với trình độ khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất nông lâm nghiệp.

2.2.Về y tế, dân số, gia đình và trẻ em:

   - Về y tế: Từng bước nâng cấp cơ sở, vật chất, trang thiết bị đảm bảo công tác khám chữa bệnh, sơ cứu ban đầu cho nhân dân, đảm bảo biên chế đội ngũ cán bộ, nhân viên trạm, có đủ y sỹ, Bác sỹ công tác tại trạm. Thực hiện tốt các chương trình y tế Quốc gia.

- Phấn đấu đến năm 2020 Trạm y tế xã được công nhận là Trạm y tế chuẩn Quốc gia.

-  Về dân số, Gia đình và trẻ em:

- Hàng năm đảm bảo tỷ lệ trên 98% trẻ (dưới 1 tuổi) đựơc tiêm chủng đầy đủ các loại Vác - xin theo quy định, thực hiện tốt chương trình phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ em, phấn đấu tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng đến năm 2020 chỉ còn khoảng 10%.

- Thường xuyên tuyên truyền vận động tới toàn thể cán bộ và nhân dân thực hiện tốt công tác kế hoạch hoá gia đình, mỗi cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ chỉ có từ 1 đến 2 con để có điều kiện nuôi tốt, dạy con ngoan.

2.3 Về phát triển văn hoá thông tin:       

- Phấn đấu hàng năm số hộ đạt gia đình văn hoá trong toàn xã đạt từ 70% trở lên. Đến năm 2020 số hộ gia đình đạt văn hoá đạt 85% trở lên.

- Số làng đạt danh hiệu làng văn hoá: Năm 2015 phấn đấu đạt 3 làng, đến năm 2020 phấn đấu đạt 5/9 làng đạt làng văn hoá.

- Từng bước đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các nhà văn hoá xóm để hoạt động. Đến năm 2020 phấn đấu xây dựng hoàn chỉnh một thư viện trung tâm xã.

 - Về thể dục, thể thao: Thường xuyên xây dựng kế hoạch và phát động phong trào luyện tập thể dục, thể thao trong quần chúng nhân dân. Phấn đấu đến năm 2020 có 65% dân số tham gia luyện tập thể dục, thể thao thường xuyên, 50% số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình thể thao.

- Hàng năm thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền các chủ trương chính sách mới của Đảng, pháp Luật của Nhà Nước, các chủ trương, Nghị quyết về phát triển kinh tế, văn hoá xã hội của địa phương kịp thời đến toàn thể cán bộ và nhân dân để nhân dân nắm bắt và thực hiện.

3. Công tác xoá đói, giảm nghèo, tạo việc làm mới:

- Tiếp tục thực hiện tốt công tác xóa đói, giảm nghèo, bằng các chương trình, dự án, bằng sự nỗ lực vươn lên của từng hộ gia đình, tiếp tục thực hiện chương trình đào tạo nghề cho nông dân, cho thanh niên nông thôn, mở mang ngành nghề, tạo thêm nhiều việc làm mới.

- Phấn đấu đến 2020 giảm hộ nghèo toàn xã xuống còn 5%.

4. Về quản lý tài nguyên và môi trường:

- Khai thác hợp lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên đất, nước, khoáng sản, môi trường một cách bền vững, tiết kiệm và hiệu quả, khai thác có hiệu quả quỹ đất, phân bổ, sử dụng quỹ đất hợp lý theo hướng đáp ứng cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp, dịch vụ, thương mại và công nghiệp.

- Điều tra, đánh giá quá trình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo hiện trạng. Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2010- 2020 trình cấp có thẩm quyền xem xét phê duyệt.

- Không để tình trạng ô nhiễm môi trường vượt quá mức cho phép sẩy ra trên địa bàn.

- Phấn đấu độ che phủ rừng xen kẽ với khai thác rừng trồng nguyên liệu hàng năm độ che phủ rừng đạt 50%.

- Đến năm 2020 có trên 85% số hộ sử dụng nước hợp vệ sinh.

5. Về An ninh - Quốc phòng:

Phát triển kinh tế, xã hội gắn với củng cố An ninh - Quốc phòng, xây dựng thế trận Quốc phòng toàn dân, thế trận An ninh nhân dân vững mạnh. Đảm bảo giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa xã hội trên địa bàn xã.

                                                      THÔNG TIN CÁ NHÂN
 LÃNH ĐẠO ĐẢNG ỦY, HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, ỦY BAN NHÂN DÂN

Số TT

Họ và tên

Chức vụ

Số điện thoại

1

Bùi Mạnh Hiền

Bí thư Đảng ủy- Chủ tịch HĐND

01698990558

2

Đinh Công Hân

Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy- Chủ tịch HĐND xã

01665289480

3

Bùi Quang Tự

Phó Chủ tịch HĐND

0983342130

4

Hoàng Văn Thường

Chủ tịch UBND

01683133784

5

Bùi Minh Châu

Phó Chủ tịch UBND

0972240155

 

Tin mới

Các tin khác

Viết bởi Nguyễn Vũ Chi